Tổng quan về Việt Nam


VIỆT NAM

Việt Nam là một quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, với tổng diện tích đất liền 329,314 km2 và bờ biển dài khoảng 3,200 km. Căn cứ trên số liệu của cuộc tổng điều tra dân số năm 2009,  Việt Nam có tổng dân số ước tính 85.85 triệu người, với phụ nữ chiếm tỉ lệ 50.6%.

Việt Nam được phân thành 63 đơn vị hành chính (gồm các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương), Thủ đô là thành phố Hà Nội ở phía Bắc với dân số 6.45 triệu người. Thành phố lớn và đông dân nhất là thành phố Hồ Chí Minh ở phía Nam với xấp xỉ 7.11 triệu người. Việt Nam có 54 dân tộc cùng chung sống. 

Hệ thống chính trị của Việt Nam được thực hiện theo cơ chế chỉ có duy nhất một đảng chính trị là Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp. Cơ cấu nhà nước của bộ máy chính trị được hoàn thiện từ năm 1976. Đường lối chính sách được Ban Chấp hành trung ương Đảng đặt ra, tuy nhiên Quốc hội ngày càng có ảnh hưởng lớn hơn trong quá trình này. Bộ máy chính trị hiện thời của Việt Nam bao gồm những thể chế sau: Đảng Cộng sản, các tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị – xã hội, các tổ chức nghề nghiệp và các tổ chức quần chúng khác. 

Một vài con số đáng chú ý:

Nguồn: Ngân hàng Thế giới, Chỉ số phát triển Thế giới 2011 | Chương trình phát triển liên hợp quốc UNDP, Báo cáo phát triển con người 2011. Chú thích: (1) Tốc độ tăng trưởng dân số trung bình hàng năm. (2) Chỉ số bất bình đẳng giới (GII). (3) Tỷ lệ dân số sống dưới mức 2 đô la Mỹ một ngày.

Những cải cách theo cơ chế thị trường nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở tốc độ cao và bền vững đóng vai trò rất quan trọng đối với thành công của Việt Nam, và những nỗ lực đó lại được củng cố thêm bởi các chính sách đảm bảo công bằng trong cung cấp các dịch vụ cơ bản, tiếp cận đất đai, và đầu tư vào cơ sở hạ tầng nhằm đảm bảo một sự tiếp cận rộng rãi hơn cho người nghèo. Trở thành một quốc gia có thu nhập trung bình đồng nghĩa với việc Việt Nam đang đứng trước vô số cơ hội phát triển mới. Tuy nhiên, vẫn còn những thử thách cần phải vượt qua, đặc biệt khi Việt Nam phải vượt qua “Bẫy thu nhập trung bình” (UNDP Chương trình phát triển Liên hợp quốc 2011). Những thử thách này chính là việc cơ sở hạ tầng kém phát triển, trình độ chuyên môn hóa và cạnh tranh còn thấp, khoa học kỹ thuật lạc hậu và lực lượng lao động chưa có trình độ. Tất cả những yếu tố này đều có nguy cơ ảnh hưởng đến tính bền vững của quá trình phát triển kinh tế cũng như phát triển con người.  Nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao trong hai thập kỉ vừa qua đã giảm thiểu tình trạng đói nghèo đáng kể, căn cứ theo chuẩn nghèo quốc tế, tỉ lệ này giảm từ 58% xuống 14% trong giai đoạn 1993-2008. Năm 2011, tỉ lệ người Việt Nam sống dưới 2 Đô la Mỹ một ngày là 38.5%.

Thêm vào đó, tốc độ xóa đói giảm nghèo đã chậm lại đáng kể trong những năm gần đây. Tỉ lệ nghèo đói trên phạm vi quốc gia chỉ giảm với tốc độ 1% hàng năm trong giai đoạn 2006-2008, trong khi con số này là 3-4% trong những giai đoạn trước. Thành công của Việt Nam đã tạo ra những thách thức mới. Vấn đề nghèo cố hữu trở thành một bài toán khó giải quyết do một số thách thức như sự cô lập, tài sản hạn chế, trình độ học vấn thấp, sức khỏe kém, và tốc độ giảm nghèo hiện nay cũng trở nên lạc nhịp với tốc độ tăng trưởng kinh tế. Ngoài ra, giảm nghèo trong các nhóm dân tộc thiểu số cũng đang trở thành một thách thức kéo dài. Mặc dù 53 dân tộc thiểu số ở Việt Nam chiếm dưới 15% tổng dân số của cả nước nhưng lại chiếm tới 47% tổng số người nghèo vào năm 2010, so với mức 29% của năm 1998. Vào năm 2010, có tới 66,3% người dân tộc thiểu số được phân loại nghèo, so với chỉ 12,9% ở người Kinh. 

Tỷ lệ đói nghèo của Việt Nam, giai đoạn 1993-2008 (%)

Nguồn: Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội và Ngân hàng Thế giới (2010)

Theo phân bố địa lý, đói nghèo chủ yếu tập trung tại các vùng có mật độ người dân tộc thiểu số cao, đặc biệt ở vùng Tây Bắc và Tây Nguyên. Những khu vực này được coi là nghèo cùng cực, cũng là nơi người dân đã ít nhiều thành công trong việc áp dụng hoặc tận dụng các biện pháp giảm nghèo trong quá trình giải quyết mô hình nghèo truyền thống. Những đối tượng yếu thế và dễ bị tác động gồm dân tộc thiểu số, người già, người tàn tật và những hộ gia đình mà người phụ nữ làm chủ. 

Vậy nên, sự tăng trưởng kinh tế tương đối trên phạm vi quốc gia cũng gây ra những bất bình đẳng và khoảng cách phát triển theo vùng miền, theo nhóm thu nhập, và giữa người Kinh với các dân tộc thiểu số khác. Ví dụ cụ thể, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng ở vùng nông thôn và miền núi cao hơn các nơi khác từ hai đến ba lần. Trong giáo dục, chỉ có 40% trẻ em dân tộc thiểu số được đến trường ở độ tuổi đi học, trong khi tỷ lệ này ở người Kinh là 60%. Tỷ lệ tham gia vào giáo dục cấp phổ thông cơ sở chỉ chiếm 59% với những hộ nghèo nhất, trong khi con số này là 95% ở những hộ giàu nhất. Dưới 1% các hộ nghèo nhất có con theo học ở các cấp cao hơn, so với 26.3% ở những hộ giàu nhất. 

Action on Poverty

Action on Poverty