Tạo thu nhập và phát triển sinh kế bền vững

Sau những thành công trong xóa đói giảm nghèo và tăng trưởng kinh tế trong những năm gần đây, Việt Nam đã trở thành  quốc gia có thu nhập trung bình (MIC). Tuy nhiên, những cơ hội mà phát triển kinh tế và tăng cường hội nhập quốc tế mang tới lại không được chia sẻ và phân bổ đồng đều. Trong nhiều trường hợp, việc ngành nông nghiệp Việt Nam gia tăng hội nhập vào thị trường quốc tế lại khiến cho người nghèo ở nông thôn càng trở nên dễ bị tác động trước sự biến động giá cả nông sản.

90% người nghèo ở Việt Nam sinh sống ở khu vực nông thôn là thực tế cho thấy mức độ quan trọng của phát triển nông thôn vì người nghèo. Bên cạnh đó, những nguy cơ từ biến đổi khí hậu lên sinh kế của người dân nông thôn và an ninh lương thực càng khiến việc xác định và triển khai các nguồn thu nhập bền vững trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. 

Để đối phó với những thách thức trên, và cũng là một phần của nỗ lực cùng “Hành động vì Đói nghèo” ở Việt Nam, AFAP luôn ưu tiên thúc đẩy phát triển sinh kế bền vững và nâng cao thu nhập cho người dân. Để làm được điều đó, AFAP đã làm việc với người nghèo và các nhóm dân tộc thiểu số, đặc biệt là phụ nữ để tuyên truyền về những hoạt động nông nghiệp bền vững, củng cố khả năng thích ứng và năng lực của người nghèo  nhằm giảm bớt sự phụ thuộc vào những nhân tố bên ngoài, thực hiện những mô hình sản xuất thân thiện với môi trường với chi phí thấp kết hợp với nâng cao năng lực tiếp cận thị trường và khả năng cạnh tranh.

Những hoạt động cụ thể trong khuôn khổ chương trình về tạo thu nhập và phát triển sinh kế bền vững bao gồm:

  • Thúc đẩy phát triển và nâng cao năng lực cho các doanh nghiệp xã hội và các nhóm hợp tác trên địa bàn dự án và coi họ như là những đối tác then chốt trong quá trình thực hiện dự án;
  • Tiến hành nghiên cứu giúp xác định thực trạng của các nguồn lực sẵn có và các giải pháp cho phát triển sinh kế bền vững và tạo thu nhập cho người nghèo;
  • Tiến hành phân tích và phát triển chuỗi giá trị cho người nghèo;.
  • Đa dạng hóa nguồn thu nhập ở nông thôn với những mô hình sinh kế có khả năng thích ứng với những biến đổi của thời tiết;
  • Hoàn thiện thể chế, và tăng cường tiếp cận thị trường với những tổ chức nhỏ của nông dân, hỗ trợ các mạng lưới liên kết như hợp tác xã, tổ chức quần chúng nông thôn, và các doanh nghiệp xã hội địa phương.

AFAP hiện đang tiến hành các hoạt động về tạo thu nhập và phát triển sinh kế bền vững trên tất cả các địa bàn dự án, bao gồm các tỉnh Hòa Bình, Điện Biên, Hà Tĩnh, Phú Thọ và Sóc Trăng, hợp tác với các đối tác khác nhau như chính quyền địa phương, tổ chức xã hội dân sự, tổ chức quần chúng, tổ chức phi chính phủ, đại học và viện nghiên cứu, cũng như các doanh nghiệp tư nhân.

Câu chuyện điển hình

Ông Lý Hoàng Hạnh, 60 tuổi, là một giáo viên về hưu sống tại xã Toàn Sơn, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình. Sau khi nghỉ hưu năm 2011, ông Hạnh có nguồn thu nhập chủ yếu từ việc trồng ngô và sắn. Gia đình ông hiện có 4 thành viên, trong đó một người con của ông vẫn còn đang đi học. Tuy nhiên, diện tích canh tác lại rất hạn chế và không đủ để chi trả cho những nhu cầu của gia đình.

Thôn của ông Hạnh là một trong số các địa phương trong huyện triển khai chương trình “Nâng cao năng lực cho các nhóm dân tộc thiểu số tiếp cận thông tin và bảo đảm an ninh lương thực” do AFAP hỗ trợ. Với mục đích đa dạng hóa nguồn thu nhập và giới thiệu những mô hình sinh kế mới, phù hợp hơn với khí hậu cho người nông dân nghèo ở địa phương, tháng 11 năm 2012, dự án đã triển khai mô hình nuôi cá lồng. Ông Hạnh đã được tập huấn các kỹ thuật nuôi cá lồng, gồm cả cách phòng và kiểm soát dịch bệnh cho cá. Ông cũng nhận được 5 triệu đồng hỗ trợ mua cá trắm cỏ để thực hiện mô hình.

Sau 8 tháng, từ một con cá giống nặng 300g, cá của ông Hạnh đã nặng tới1.5-1.7kg mỗi con. Theo ông Hạnh, sau một năm thực hiện dự án, khối lượng trung bình của cá là 2.2-2.5kg mỗi con, và mỗi lồng có thể nuôi tới 300 con. Giá trung bình của cá trắm cỏ hiện nay là 70,000 đồng/kg, như vậy ông Hạnh có thể thu về 10 triệu đồng lợi nhuận mỗi năm. Ông cũng cho biết: “Đầu tư ban đầu của tôi cho lồng cá không cao vì nhà đã có sẵn luồng (một loại tre), nên chỉ cần mua thêm dây để dựng lồng.”

Ông Hạnh bổ sung rằng nuôi cá lồng có hiệu quả hơn gấp ba lần so với nuôi lợn. Tuy nhiên, khi mới bắt đầu, ông cũng rất đắn đo. “Vì lúc đấy tôi không có nhiều tiền, và đây cũng là một loại hình kinh doanh hoàn toàn mới, nên tôi không tin tưởng lắm. Nhưng sau vụ thu hoạch đầu tiên, tôi đã quyết định sẽ phải đầu tư thêm hai lồng nữa”, ông nói.

Ở Hòa Bình, mô hình nuôi cá lồng tận dụng được những điều kiện thuận lợi của địa phương, như nguồn nước ấm quanh năm, nguồn thức ăn tự nhiên, và lao động lúc nông nhàn. Những ví dụ như ông Hạnh đã khẳng định sự phù hợp của mô hình sinh kế với mức đầu tư ban đầu cũng như hoàn cảnh và nhu cầu của người dân, giúp họ có thêm thu nhập để thoát khỏi đói nghèo.

Ông Lý Hoàng Hạnh với mô hình nuôi cá lồng của gia đình.

Action on Poverty

Action on Poverty